|
|
||||
|
VietAm Review links
Login
|
« October
Friday, November 21
by
Viet-Am Review
on Fri 21 Nov 2008 12:14 PM PST
Giáo Sư Huỳnh Sanh Thông Vừa Ra Đi by Tam Viet, Viet Bao online. November 21, 2008. Giáo-sư Huỳnh Sanh Thông, một trong mấy dịch-giả văn-học hàng đầu từ tiếng Việt sang tiếng Anh, vừa mất hôm thứ Hai, 17 tháng 11, 2008, tại nhà thương gần nhà ở Hamden, Connecticut, do tim ngừng đập. Được biết, đã từ nhiều năm nay, ông phải ngưng làm việc do một vụ tai-biến mạch máu não làm cho ông bị liệt nửa người và phải ngồi xe lăn.
Sinh năm 1926 ở miền Nam Việt-nam, ông Huỳnh Sanh Thông là một trong những du-học-sinh Việt-nam sang Hoa-kỳ từ rất sớm, chỉ ít năm sau Thế-chiến II. Sự-nghiệp của ông có thể chia ra làm mấy giai-đoạn như sau:
Ông bắt đầu làm giảng-viên dạy tiếng Việt tại Đại-học Yale ở New Haven, Connecticut, vào những năm cuối thập niên 1950 và liên-tiếp dạy ở đây trong vòng 15 năm, tới đầu thập niên 1970. Trong giai-đoạn này, ông đã là tác-giả chung với một học-giả người Mỹ, ông Robert B. Jones, Jr., để làm ra một số sách giáo-khoa dạy tiếng Việt cho người nói tiếng Anh. Đó là những cuốn như Introduction to Spoken Vietnamese (Washington, DC: American Council of Learned Societies, có hai ấn-bản, năm 1957 và 1960). Sau đó, hai ông lại cộng-tác trong một tác-phẩm khác, đó là cuốn Spoken Vietnamese (Ithaca, New York: Spoken Language Services, khoảng năm 1979). Cũng trong thời-gian này, ông được Hội-đồng Hoa-kỳ các Hội Chuyên-khoa (American Council of Learned Societies) tài-trợ trong nhiều năm để làm một cuốn từ-điển Việt-Anh thật lớn mà cuối cùng ông chỉ hoàn-tất được đến có vần G mà thôi. (Cuốn đại-từ-điển này, tuy chưa hoàn-tất, vẫn được Trung-tâm Ngôn-ngữ-học Ứng-dụng, Center for Applied Linguistics, in ra thành nhiều tập khoảng năm 1968-69 trong một lần in rất giới-hạn.)
Có một thời-gian, khoảng giữa thập niên 1960, ông theo tiếng gọi của quê hương và về Việt-nam để đảm trách chức Tổng-giám-đốc Việt Tấn Xã nhưng duyên chính-trị của ông không bền. Ông đã rời VN và trở lại Mỹ sau chỉ mấy tháng làm việc trong một khung cảnh rất khó khăn, gặp nhiều gò bó.
Trở lại Mỹ, ông lại lao vào học-thuật và tác-phẩm đầu tiên làm cho ông nổi tiếng là bản dịch Truyện Kiều, The Tale of Kieu, của Nguyễn Du (1765-1820) do nhà Random House in ra năm 1972, với Gloria Emerson (ký-giả New York Times) viết tựa và Alexander Woodside, cựu-sinh-viên của ông mà sau này đã trở thành một giáo-sư nổi tiếng về VN ở Harvard, viết về phần lịch-sử. Cuốn này, đến năm 1986, ông lại để cho Yale University Press in ra trong một bản song ngữ Việt-Anh đối-chiếu, với minh-hoạ của Hồ Đắc Ngọc.
Sự thành công của bản dịch Kiều này đã khuyến khích ông dốc toàn-thời vào việc dịch thơ văn VN. Và cuối cùng là hai tuyển-tập thơ Việt-nam dịch sang tiếng Anh, The Heritage of Vietnamese Poetry (Di-sản Thi ca Việt-nam, Yale University Press, 1979) và An Anthology of Vietnamese Poems from the Eleventh through the Twentieth Centuries (Tuyển-tập Thơ VN từ Thế-kỷ XI đến Thế-kỷ XX, Yale University Press, 1996). Ba tác-phẩm trên đây đã mang lại cho ông nhiều giải thưởng cao quý: Giải thưởng Harry Benda của Hội Á-đông-học (Association of Asian Studies) năm 1981 và nhất là Đại-tặng-dữ MacArthur Fellowship năm 1987 (trị giá $365,000, tương-đương hay còn lớn hơn cả với giải Nobel về văn-học).
Với giải MacArthur, ông không còn thấy cần phải đi dạy học nữa và đã bỏ toàn thời ra làm mấy tập-san về Việt-học nổi tiếng một thời. Ông lập ra Lạc Việt Series để in sách dịch từ Việt-ngữ hay Pháp-ngữ nhưng chuyên về Việt-nam, trong đó phải kể bản dịch Lục súc tranh công (The Quarrel of the Six Beasts, in song ngữ, tựa-đề do G.S. Nguyễn Ngọc Huy và minh-họa của Mạnh Quỳnh) (New Haven, CT: Yale Southeast Asian Studies, 1987), To Be Made Over: Tales of Socialist Reeducation in Vietnam (dịch một số truyện đi cải tạo tập trung của người miền Nam sau khi CS vào thành) (New Haven, CT, 1988), The Song of a Soldier's Wife - Chinh Phụ Ngâm (bản dịch song ngữ, New Haven, CT, 1986, với tranh minh-hoạ của Hồ Đắc Ngọc) và nhất là Flowers from Hell - Hoa Địa Ngục (bản dịch song ngữ tác-phẩm nổi tiếng của nhà thơ Nguyễn Chí Thiện, dịch khoảng gần 200 bài, New Haven, CT: Southeast Asia Studies, 1984). Chính bản dịch sau này đã mang lại cho nhà thơ Nguyễn Chí Thiện Giải Thơ Quốc-tế Rotterdam (Hoà-lan) năm 1985. (Cách đây vài tháng, nhà thơ Nguyễn Chí Thiện đã lên thăm ông và cho hay ông đã nói lại và viết lại được, tuy còn rất chậm chạp.)
Sức sáng-tác của ông được xem là phi thường vì ngoài những tác-phẩm trên, ông còn cho ra tập-san chuyên-đề về văn-chương và văn-hoá VN in trong ba thứ tiếng, Việt-Anh-Pháp, mang tên The Vietnam Forum, cuối cùng cũng ra được mười mấy số. Sau đó, ông đã cộng-tác với nhà phê-bình Hoàng Ngọc Hiến ở trong nước và nhà văn Trương Vũ ở Maryland để cho ra tạp-chí The Vietnam Review in bài trong hai thứ tiếng Anh và Pháp mà ông là chủ-biên, phát hành hai số một năm. Số ra mắt độc-giả là vào năm 1996 và số 2 (dày 568 trang) là số Xuân-Hè 1997 gồm nhiều thơ, truyện, biên khảo của các tác-giả cổ, kim, trong và ngoài nước.
Ngoài ra, ông cũng còn có những bài biên-khảo khá sâu sắc, có khi dài cả 100 trang, để nói về một đề-tài như nguồn gốc tiếng Việt trong tập-san Dòng Việt (1994), do hai G.S. Lê Văn và Nguyễn Đình Hoà chủ-trương và G.S. Hà Mai Phương đứng tên chủ-bút.
Rất tiếc là ông đang khi sung sức nhất thì bị tai-biến mạch máu não làm cho ông phải ngưng mọi hoạt-động viết lách cũng như xuất bản trong nhiều năm qua. Tuy-nhiên, sự đóng góp của ông vẫn phải kể là thật đồ sộ trong nỗ lực giới-thiệu văn thơ VN với thế-giới nói tiếng Anh mà ít người bì kịp.
G.S. Huỳnh Sanh Thông ra đi, để lại một người vợ, bà Vân Yến, một quản-thủ thư-viện (bà đã làm việc nhiều năm tại Thư-viện Đại-học Yale, cho tới tháng 3 năm 2008), một dương-cầm-gia có hạng và là một người mẹ hiền, hy-sinh tất cả cho chồng con.
Tang-lễ được cử-hành trong vòng thân mật vào cuối tuần này ở Nghĩa-địa Grove Street ở thành-phồ Hamden, CT. http://www.vietbao.com/?ppid=45&pid=115&nid=137436
*************************************************************************
On Tue, 11/18/08, Southeast Asian Studies
Saturday, November 15
by
Viet-Am Review
on Sat 15 Nov 2008 12:00 AM PST
WHEN LITERATURE IS LIFE AND DEATH
I see the controversy about Nguyen Chi Thien as more than "a literature case." I see it as life and death for him as much as his twenty-seven years in the Vietnamese Communist gulag.
Nguyen Chi Thien developed his poetry through memorization because he was denied pen and paper. The only charge ever made against him was "anti-propaganda." He stayed in prison so long because he refused to kneel to the Communists or sign a confession of reeducation to be released. He was methodically starved, confined in solitary darkness for eight years, and chained in legstocks.
When Nguyen Chi Thien went to the British Embassy in Hanoi in 1979 his country, Vietnam, was at war with both Cambodia and China. The British Embassy was first brought to the Socialist Republic of Vietnam in Hanoi in 1973, after the Paris Peace Accords. Before that the British Embassy was only in Saigon, the capitol of the Republic of Vietnam, called South Vietnam.
His arrest at the British Embassy in Hanoi was caused by the Vietnamese reception staff. Yesterday as well as today, the local staffs of most embassies are normally security agents of their own countries. In the case of totalitarian countries or those at war, the use of security agents is very common.
Nguyen Chi Thien brought a manuscript of 400 poems to the Embassy on July 16, 1979. He broke through the Vietnamese reception. He turned over a table to stop their chase and even pushed a woman down who grabbed him. He asked the diplomats behind their closed door to bring his poetry to their free country. Then Nguyen Chi Thien was arrested outside the gate and brought to Hoa Lo prison, enduring twelve more years in four prisons, near death many times. Eight of those years were in solitary darkness.
Amnesty International brought his plight to the attention of the outside world, as did Human Rights Watch. "Perhaps it was for this reason they did not kill me," he states in the memoir interview which was published in October 2008. This interview is in Vietnamese and in English in the new book Hai Truyen Tu -- Two Prison Life Stories; Nguyen Chi Thien's prose in bilingual text. Allies for Freedom publishers, 2008.
ISBN 0-9773638-6-4.
The diplomats did send the manuscript to London, under diplomatic protection. After the signature "Nguyen Chi Thien" was removed, it came to Professor Patrick Honey at the School of Oriental and African Studies from the foreign office. Yale University Southeast Asia Studies Council director James Scott wrote about this process in 1984 in Lac Viet No. 1, Hoa Dia Nguc / Flowers from Hell" It is in English only in the introduction on page xxiii.. Yale did not publish the introduction in Vietnamese, only the poetry.
The British foreign office knew ‘Paddy’ Honey and his anticommunist values because Prof. Honey was stationed in Saigon as a British naval officer after World War II. During the early 1950s, before partition into North Vietnam and South Vietnam, he lived in Hanoi to study and research, and learn the language. He was pro-democracy.
Recent events brought the original manuscript back to the correct author, Nguyen Chi Thien, after the death of Prof. Paddy Honey in 2005. His widow gave it to a Vietnamese professor in London according to plan. In early 2008 Prof. Le Manh Hung visited Nguyen Chi Thien in Orange County. At dinner he asked questions of identification that only the author could know. Satisfied, Prof. Le returned the manuscript to Nguyen Chi Thien.
The Vietnamese Ministry of Security telephoned the dissident poet in Orange County less than one year ago. He was speaking out against Vietnamese language press that is controlled by the Communist government and they remonstrated him for it. Now there is a second Vietnamese language magazine which states that Nguyen Chi Thien is not the real author, and is a communist. He has endured so much that his poetry is his life and near-death. One does not exist without the other. That is why his poetry is more than literature.
*************************************************************************************
KHI NGHI VẤN VĂN HỌC LÀ VẤN ĐỀ SINH TỬ
Tôi nghĩ việc tranh cãi về Nguyễn Chí Thiện còn lớn hơn một “nghi án văn học”. Tôi cho rằng đây là vấn đề sống còn đối với ông ta cũng như hai mươi bảy năm ông bị giam cầm trong ngục tù Cộng sản Việt Nam.
Nguyễn Chí Thiện đã viết lại những bài thơ của mình bằng trí nhớ vì ông đã không được cung cấp giấy bút. Ông đã bị buộc một tội duy nhất là “tuyên truyền phản động”. Ông đã ngồi tù lâu như vậy vì ông đã không chịu khuất phục những người Công sản hoặc ký vào bản thú nhận cải tạo để được phóng thích. Ông đã bị bỏ đói một cách có phương pháp, bị biệt giam tám năm trong buồng tối, và bị cùm chân.
Khi Nguyễn Chí Thiện đi tới Sứ quán Anh ở nước ông vào năm 1979, Việt Nam đang lâm chiến với Cả Cambốt và Trung Quốc. Tòa đại sứ Anh được lập tại Hà Nội vào năm 1973 sau Hiệp định Paris. Trước đó tòa Đại sứ Anh chỉ có ở Sài gòn, thủ đô của nước Việt Nam Cộng Hòa, Nam Việt Nam.
Ông đã bị bắt tại tòa Đại sứ Anh bởi nhân viên tiếp tân người Việt. Ngày trước cũng như bây giờ, Nhân viên bản xứ làm việc ở hầu hết các sứ quán thường là những nhân viên an ninh của nước sở tại. Đối với những nước chuyên chế hoặc đang trong thời chiến, việc sử dụng các nhân viên anh ninh là chuyện bình thường.
Nguyễn Chí Thiện đã mang một bản thảo gồm 400 bài thơ vào tòa Đại sứ vào ngày 16.07.1979. Ông đã vượt qua bộ phận tiếp tân người Việt. Ông xoay một cái bàn để chặn những người đuổi theo và thậm chí xô ngã một phụ nữ đang túm lấy ông. Ông đã yêu cầu các nhân viên ngoại giao đàng sau cánh của đóng kín mang tập thơ của ông đến xứ sở tự do của họ. Sau đó Nguyễn Chí Thiện đã bị bắt ở bên ngoài cổng và bị giam ở nhà tù Hỏa Lò, chịu thêm 12 năm giam cầm qua bốn trại giam với nhiều lần gần kề cái chết. Tám năm trong thời gian đó hoàn toàn bị biệt giam trong bóng tối cô đơn.
Tổ chức Ân xá Quốc tế đã thu hút sự chú ý của thế giới bên ngoài cũng như của Tổ chức Giám sát Nhân quyền đến trường hợp của ông. “Có lẽ vì lý do này mà họ vẫn chưa giết tôi,” ông phát biểu trong bài phỏng vấn ký sự được đang tải vào tháng 10 năm 2008. Bài phỏng vấn này được in bằng hai thứ tiếng Anh và Việt trong quyển sách mới Hai Truyển Tù – Two Prison Life Stories; bài của Nguyễn Chí Thiện bằng song ngữ. Allies for Freedom publishers, 2008.
ISBN 0-9773638-6-4.
Các nhân viên ngoại giao đã gửi tập bản thảo tới Luân Đôn, theo diện bảo vệ ngoại giao. Sau khi đã bỏ đi chữ ký “Nguyễn Chí Thiện”. Bản thảo đã được gửi tới Giáo sư Patrick Honey thuộc khoa Đông phương và Châu Á. James Scott, giám đốc Hội đồng nghiên cứu về Đông Nam Á của Đại Học Yale đã viết về quá trình này vào năm 1984 trong Lạc Việt số 1, Hoa Địa Ngục / Flower from Hell. Bài viết bằng Anh ngữ trong phần giới thiệu ở trang xxiii. Yale đã không in phần giới thiệu bằng Việt ngữ mà chỉ in phần thơ mà thôi.
Sở Ngoại vụ Anh biết rõ Giáo sư Honey và lập trường chống cộng của ông vì Giáo sư đã từng đóng quân ở Sài gòn với tư cách là sĩ quan hải quan Anh sau Đệ Nhị Thế Chiến. Trong những năm đầu thập niên 1950, trước cuộc chia cắt hai miền Bắc và Nam Việt Nam, ông đã sống tại Hà Nội để nghiên cứu và học tiếng Việt. Ông là một người ủng hộ dân chủ.
Những biến cố gần đây đã đem bản thảo gốc về với tác giả đúng của nó, Nguyễn Chí Thiện, sau cái chết của Giáo sư Paddy Honey vào năm 2005. Vợ góa của ông đã trao tập bản thảo cho một giáo sư người Việt ở Luân đôn theo như dự định. Đầu năm 2008 Giáo sư Lê Mạnh Hùng đã đến thăm Nguyễn Chí Thiện ở Orange County. Trong bữa tối ông đã đặt ra những câu hỏi mà chỉ có tác giả mới biết câu trả lời. Hài lòng vì điều đó, Giáo sư Lê đã trả lại tập bản thảo cho Nguyễn Chí Thiện.
Trong vòng năm trước, Bộ Công an Việt Nam đã gọi điện cho nhà thơ bất đồng chánh kiến ở Orange County. Ông đã nói thẳng ra là bào chí tiếng Việt bị kiểm soát bởi chính phủ Cộng sản và họ đã khiển trách ông vì điều đó. Giờ đây lại có một tạp chí thứ hai bằng Việt ngữ tuyên bố rằng Nguyễn Chí Thiện không phải là tác giả thực của tập thơ, và rằng ông là công sản. Ông đã phải chịu đựng nhiều đến nỗi mà những vần thơ của ông chính là cuộc đời và những lúc cận kề cái chết của ông. Không có cái này thì không thể có cái kia. Điều đó giải thích vì sao thơ của ông còn hơn cả một vấn đề văn chương.
Jean Libby, editor
Allies for Freedom publishers
www.vietamreview.net/Hai_Truyen_Tu.html
www.AtoZproductions.com/A_Book_is_Born.html
www.AtoZproductions.com/Gallery_of_support.html
more »
Friday, November 14
by
Viet-Am Review
on Fri 14 Nov 2008 10:36 AM PST
Published works of the dissident poet Nguyen Chi Thien, whose Hoa Dia Nguc won international recognition while he was imprisoned for twenty-seven years in Communist Vietnam between 1961 and 1991. The author immmigrated to the USA in 1995, and is a US citizen. List updated in July 2007. Compiled by Dan Duffy, director of the Viet Nam Literature Project; Jean Libby, editor, VietAm review; Vietnamese editing by Nguyen Thi and Thuy Anh Truong. This listing was updated in November 2008. more »
Saturday, November 8
by
Viet-Am Review
on Sat 08 Nov 2008 11:34 PM PST
Kính gửi: Ban Giám Đốc của Hội Ân Xá Quốc Tế:
Nguyễn Chí Thiện, ở miền Bắc Việt Nam (nay đã thành Việt Nam thống nhất) là một trong những tù nhân của lương tâm từ thập niên 1980 đến năm 1991, cho đến khi ông được phóng thích nhờ áp lực của dư luận thế giới. Năm 1961 Hồ Chí Minh đã tống giam ông vào ngục vì những dòng thơ bất kính đối với những người Cộng Sản. Quản ngục đã dùng những kinh nghiệm học được từ các người cộng sản bị Pháp bắt giữ tại Hỏa Lò trong những thập niên 1930 và 1940 để đối phó với tù nhân và các nhà cách mạng đang bị họ giam cầm. Vì thế ngục sĩ đã không được phép sử dụng giấy viết và đành phải khắc ghi những sáng tác của ông vào trong tâm trí.
Vào năm 1979, một thời gian ngắn sau khi được phóng thích, Thiện đã lén lút ghi chép vội vã những bài thơ của ông và mang đến tòa đại sứ Anh Quốc tại Hà Nội. Nhân viên sứ quán chỉ nhận chuyển giao tác phẩm của ông chứ không cho phép tị nạn nên ông đã trải qua hơn 12 năm khủng khiếp tại khám lớn Hỏa Lò (Hanoi Hilton) và trong hơn 7 trại giam đầy thú tánh. Tám năm trong thời gian đó ông đã bị cùm chân biệt giam trong bóng tối.
Peter Benenson đã nghe được cảnh ngộ khốn khổ của ông và đã thực hiện cam kết bằng cách tổ chức một mạng lưới ân xá quốc tế tại khuôn viên trường UC Berkeley vào năm 1981. Những nhà ngọai giao trên cũng chuyển giao bản thảo của ông đến Luân Đôn như lời đã hứa.
Tôi đã thu thập và biên sọan bản thảo của Nguyễn Chí Thiện bằng Anh ngữ cho Đại Học Yale (Nơi đã xuất bản đầu tiên tác phẩm của ông bằng song ngữ năm 1985 và đã thắng được giải thưởng Thi Văn Rotterdam) và lần này do nhà xuất bản của riêng cá nhân tôi, Allies for Freedom tại California. Tôi đã và đang truyền bá những việc làm của Hội Ân Xá Quốc tế và trong khỏang thời gian 1988 đến 1991, với hàng ngàn lá thư vận động đã dẫn đến sự ủng hộ từ các giới chức hàng đầu của các quốc gia như Leopold Senghor (cũng từng là Ngục sĩ), John Major của UK và King Hussein của Jordan, BBC, nhà làm phim người Pháp, Michel Duval, và những người khác nữa cho trang bìa của ấn bản bằng Anh Ngữ tại Đại Học Yale, Những câu truyện tại Hỏa Lò / Hanoi Hilton Stories của Nguyễn Chí Thiện.
Xác nhận thân phận người tù nhân vì lương tâm của Hội Ân Xá Quốc tế đã là chất xúc tác cho thành quả sau này. Nguyễn Chí Thiện đã được đưa vào bệnh viện trong trạng thái gần kề cái chết vì nhà lảnh đạo cộng sản biết rằng không thể bí mật thủ tiêu được ông. Ông đã được phóng thích năm 1991, một bước trước cuộc thăm viếng của Hồng Thập Tự quốc tế.
Hiện tại danh tiếng của Nguyễn Chí Thiện đang rơi vào một giai đọan xấu. Một nhóm nhỏ những người Việt nam thành công về tài chính tại Hoa Kỳ đã chất vấn ông về quá khứ của việc xuất bản những bài thơ cũng như sự trợ giúp từ Hội Ân Xá Quốc tế.
Một quyển sách vừa xuất bản trong tháng 10 năm 2008 đã thuật lại hai câu truyện có thật trong tù bằng Anh và Việt ngữ với ít tư liệu được trích trong tài liệu lịch sử của Ký Túc Xá trường UC Berkeley vào năm 1981, nơi những sinh viên tị nạn Việt Nam đã đọc tác phẩm của ông bằng tiếng Việt và tự dịch sang Anh ngữ. Việc làm lúc ấy do Laola Hironaka thuộc mạng lưới Ân Xá Quốc Tế trong khu học xá kêu gọi. Thời gian này cũng không ai biết ông còn sống và đang bị giam giữ hay đã chết. Sự kiện lịch sử kể trên cũng được Bùi Văn Phú, giáo viên trung cấp dạy môn khoa học và là một nhà báo, tường thuật trong quyển sách mới ấn hành kể trên.
Tôi xin hân hạnh gửi phiên bản của hai quyển sách đã xuất bản (Yale Southeast Asia Studies năm 2007 và Allies for Freedom năm 2008) mà bên trong có những đọan văn rất lý thú để bày tỏ sự giao hảo của tôi đối với Hội Ân xá Quốc tế và xin coi đây là tài liệu tham khảo của riêng quý hội.
Thêm vào đó, chúng tôi đang tìm kiếm những tin tức liên quan đến Laola Hironaka và những cá nhân khác đã tiết lộ thân thế của tác giả vào năm 1981. Ấn bản đầu tiên tác phẩm của ông đã rất bí mật nhằm bảo vệ an tòan cho nhà thơ hiện đang còn bị giam giữ. Vì thế chữ ký và địa chỉ của tác giả cũng đã bị xé khỏi nguyên bản.
Câu truyện này giống hệt như một huyền thọai. Bản thảo sau khi mang về Anh quốc đã được trao cho giáo sư Patrick Honey tại học viện nghiên cứu Viễn Đông và Châu Phi thuộc đại học London. Giáo sư đã giao những bản sao của tác phẩm cho đài BBC, Hội Ân Xá Quốc Tế và Quê Mẹ, tổ chức đấu tranh cho Dân Chủ Việt Nam tại Paris. Ấn bản đầu tiên được ấn hành từ Vietnamese Émigrés tại Hoa Kỳ vào tháng 8 năm 1980.
Mặc dù Nguyễn Chí Thiện (hiện giờ là công dân Mỹ) và tôi đã thử dò tìm nguyên bản viết tay tác phẩm của ông nhưng tất cả những nhà các nhân viên sứ quán Anh Quốc đều cho biết lần cuối cùng họ đã nhìn thấy chúng được cất giữ trong tay của giáo sư Honey. Quê Mẹ, nơi đã xuất bản tác phẩm của ông dưới nhan đề Chants de Prison / NgụcCa / Prison Songs (3 ngôn ngữ) năm 1982 đã viếng thăm vợ chồng giáo sư Patrick Honey tại London, thời điểm gần nhất trước khi bà vợ đầu tiên của ông qua đời. Giáo sư đã nói với ông Võ văn Ái và Penelope Faulkner rằng ông vẫn còn cất giữ bản thảo nguyên tác đó.
Giáo sư Honey đã qua đời vào năm 2005. Người vợ thứ hai của ông đã trao bản thảo nguyên tác cho một giáo sư người Việt sống ở Anh Quốc tên Lê Mạnh Hùng. Mới vài tháng trước đây, trong năm 2008, Lê Mạnh Hùng đã đến Nam California để thăm viếng Nguyễn Chí Thiện và nói với ông rằng sẽ trao trả nguyên tác của bản thảo cho Nguyễn Chí Thiện nếu xác định được ông đích thực là tác giả. Sau khi kiểm chứng và thử nghiệm với Nguyễn Chí Thiện, giáo sư Hùng đã hòan tòan an tâm và đã gửi nguyên bản bằng đường bưu điện trả về cho đúng chủ nhân của chúng.
Do có sự bôi nhọ uy tín của Nguyễn Chí Thiện khởi nguồn từ một vài tạp chí Việt ngữ nơi có quyền in ấn bất cứ điều gì mà không sợ vi phạm pháp lý, “Bởi vì người Việt không nên thưa kiện người Việt”, tác giả một lần nữa bắt buộc phải truy cứu lại bối cảnh lịch sử của nguyên bản đã được công bố khi ông còn là một tù nhân ở Việt nam. Ông ta thật sự cần đến sự giúp đỡ của quý ngài với tư cách là một cựu tù nhân của lương tâm để được phục hồi danh dự và trả lại đúng địa vị của ông trong lảnh vực văn hóa và lịch sử.
Tôi đã tham gia vào nhóm 19 của Hội Ân xá Quốc Tế nhằm mục đích bày tỏ những vấn đề lịch sử liên quan đến tác giả. Nguyễn Chí Thiện đã là quan khách của Ginetta Sagan khi ông định cư ở Hoa Kỳ vào năm 1995. Ông cũng là quý khách của Samson Tu, cố vấn luân lý và khoa học của nhóm chúng tôi.
Tôi đã được sự đồng tình của những thành viên trong nhóm 19 và tiếp tục kêu gọi sự quan tâm đối với tù nhân vì lương tâm Mattewos Habteab của chúng tôi – Người mà không biết còn sống hay đã chết – và những tù nhân tại Việt Nam như linh mục Nguyễn Văn Lý. Không phải tình cờ, Nguyễn Chí Thiện và Cha Lý đã cùng ở trong tù năm 1991. Thi sĩ Nguyễn Chí Thiện đã được phóng thích và Cha Lý đã được xem là một tù nhân vì lương tâm. Về sau Cha Lý đã được thả ra nhưng hiện tại lại nhận lảnh án tù 8 năm bắt đầu từ năm 2007. Ngài đã được nhóm 19 công nhận là một tù nhân vì lương tâm và Stephen Denney, trưởng nhóm Ân Xá Quốc Tế của California đặc trách vấn đề Việt nam, đang tiến hành bảng kiến nghị mới để chúng tôi gửi đến chính quyền Cộng Sản tại Việt Nam để khiếu nại và yêu cầu trao trả tự do cho linh mục Nguyễn Văn Lý.
Tôi xin tha thiết gửi đến Hội đồng tối cao của tổ chức Ân Xá Quốc Tế phiên bản của hai quyển sách kể trên và cầu mong một người nào đó trong quý hội tìm ra được giải pháp thích đáng đối với vấn đề đã xảy ra cho tác quyền của nguyên bản và vai trò đằng sau của những kẻ gian xảo đã ngụy tạo ra chúng.
Trân trọng kính chào,
Jean Libby
Thành viên của nhóm 19
Editor, Allies for Freedom publishers
Palo Alto, California USA
Hai Truyện Tù – Two Prison Life Stories
Song ngữ Anh - Việt
ISBN 978-0-9773638-6-5
www.vietamreview.net/Hai_Truyen_Tu.html
www.vietamreview.net/handwriting.html more »
Monday, November 3
by
Viet-Am Review
on Mon 03 Nov 2008 08:28 PM PST
TO: Amnesty International Leadership Discussion group:
Nguyen Chi Thien, of North Vietnam (now unified Vietnam) was one of the original Prisoners of Conscience from the 1980s to 1991, when he was released due to international pressure. Ho Chi Minh put him in prison in 1961 for his irreverent (to Communists) poetry. He wasn't allowed paper and pen to write. They knew how effective prison was for revolutionaries when the Communists were imprisoned by the French in the Hoa Lo prison in the 1930s and 1940s. So he developed his memory to compose his poetry.
In 1979, during a brief period of release, Thien smuggled a hastily-written hidden manuscript into the British Embassy in Hanoi. They refused him asylum, and he spent twelve more terrible years at the Hoa Lo (Hanoi Hilton) Central Prison and the even more brutal numbered camps. Eight of those years were in solitary darkness, in leg stocks.
Peter Benenson heard of his plight, and so did the Amnesty International Campus network at UC Berkeley, by 1981. The diplomats had sent his manuscript to London, as promised.
I have edited the English language manuscripts of Nguyen Chi Thien for Yale University (who first published his work in bilingual format in 1985, winning the Rotterdam Poetry Prize) and now on my own as Allies for Freedom publishers (legal dba) in California. I have developed the story of Amnesty International and the 1988 - 1991 mass letter campaign that drew support from heads of state like Leopold Senghor (also a prisoner poet), John Major of UK, and King Hussein of Jordan, the BBC, French filmmaker Michel Duval, and others for the cover of the Yale English language publication, Hoa Lo / Hanoi Hilton Stories by Nguyen Chi Thien.
Amnesty International's Prisoner of Conscience identity was the catalyst for this success. He was moved into an infirmary in 1990 because he was near death and the Communist government knew that he could not be anonymously buried. He was released in 1991 one step ahead of a visit by the International Red Cross.
Nguyen Chi Thien's success story has taken a bad turn. A small group of well-financed Vietnamese in America have challenged his history of poetry publication, including the assistance by Amnesty International.
The book published in October 2008, reprinting two of his prose prison life stories in English and in Vietnamese has the documented history of a program at the UC Berkeley campus in 1981 where Vietnamese refugee students read his work in Vietnamese and in English translation, which they did themselves. It was Laola Hironaka of Amnesty International Campus Network who turned them on to do this. It was not known at the time where he was imprisoned or if he were alive or dead. This history is written in the new book by Bui Van Phu, who is now a middle school science teacher and a journalist.
I would like to mail copies of the two books which tell the Amnesty International relationship (both Yale Southeast Asia Studies in 2007 and Allies for Freedom publishers in 2008) to interested regions and chapters for review and your own historical record.
Even more, we are seeking information from Laola Hironaka and others who brought his identity forward in 1981. The first publication of his manuscript was anonymous, very likely to protect him while in prison. His signed name and address were cut from the original manuscript.
This story is indeed legendary. The manuscript was given to Prof. Patrick Honey at the University of London School of Oriental and African Studies. He gave copies to BBC, to Amnesty International, and to Que Me, Action for Democracy in Vietnam, in Paris. The first editions were published by Vietnamese émigrés in the United States in August 1980.
Although Nguyen Chi Thien (now an American citizen) and I had tried to trace his original manuscript, all the British Foreign Office knew was that it was last known in the hands of Professor Honey. Que Me, who published his work as Chants de Prison/Nguc Ca/Prison Songs (trilingual) in 1982 visited Prof. Patrick Honey and his wife in London in 1986, close to the time of the death of his first wife. He told Mr. Vo Van Ai and Penelope Faulkner he still had the manuscript.
Prof. Honey died in 2005 and his second wife, Isabelle Boyer, gave the manuscript to a Vietnamese professor from London named Le Manh Hung. In 2008, just a few months ago, Le Manh Hung came to southern California to visit Nguyen Chi Thien and tell him that he had the manuscript for him if he could ascertain he was the author. That accomplished, he mailed the original manuscript to the correct author.
Because of the disparagement of Nguyen Chi Thien by one or two Vietnamese language journals who print anything because "Vietnamese do not sue other Vietnamese" the author must again retrace the history of the manuscript that occurred while he was in prison in Vietnam. He needs your help as a former Prisoner of Conscience to clear his name and retain his rightful place in literature and history.
I joined Amnesty International Group 19 in order to develop the history of my chosen author's work. He had been hosted by the late Ginetta Sagan when he came to the United States in 1995. He was also hosted by Samson Tu, the physical and moral mentor of our Group.
I have found among Group 19 members a commonality of purpose and continue in order to call attention to our Prisoner of Conscience Mattewos Habteab of Eritrea -- who may not be alive -- and prisoners in Vietnam today such as Father Nguyen Van Ly. Not concidentally, Nguyen Chi Thien and Father Ly were in prison together in 1991. The poet Thien was released and Father Ly adopted as a Prisoner of Conscience. Father Ly was released but now is in his third prison term of eight years beginning in 2007. He has been adopted as a Prisoner of Conscience again by Group 19 and California Amnesty International leadership, Vietnam Country specialist Stephen Denney, who developed new petitions for tabling. We send petitions to the Communist government of Vietnam about the imprisonment of Father Nguyen Van Ly.
I am eager to send copies of both these books to Amnesty International chapters and regions and seek everyone's help in sorting out the processes that occurred with the original manuscript and the AI role in its dissemination.
My sincere gratitude,
Jean Libby
Member, Group 19
Palo Alto, California USA
Editor, Allies for Freedom publishers
Hai Truyen Tu – Two Prison Life Stories
English and Vietnamese
ISBN 978-0-9773638-6-5
www.vietamreview.net/Hai_Truyen_Tu.html
more »
|
Search
Recent Photos
Search
Categories
Month Archive
|
||