"It's a love story!" editor Vivian Truong Gia describing 'Amerasian, Di sản của chiến tranh' in the current iissue. Also pictured: manager at Little Saigon Radio, San Jose
May 02, 2008
Amerasian, Di sản của chiến tranh
Giao Chỉ
Di sản chiến tranh
Cuộc
chiến nào mà không để lại những đau thương. Chiến tranh Việt Nam cũng không
ra ngoài thông lệ. Những đứa trẻ mồ côi, những làng xóm tan nát, những góa phụ,
những thương binh và đặc biệt tại miền Nam, những đứa con hai giòng máu.
Những đứa trẻ lai. Mỹ trắng, Mỹ đen, bé trai, bé gái. Người Mỹ gọi là
Amerasian. Các em lớn lên trở thành sắc dân Mỹ Á.
Thực ra, Amerasian có thể là di sản của người lính Mỹ tại Phi Luật Tân, sau đệ
nhị thế chiến. Có thể là vấn nạn của Đại Hàn sau chiến tranh Triều Tiên. Nhưng
bây giờ khi nói đến Amerasian thì đó là câu chuyện của Việt Nam. Khi nước
Mỹ quay lưng đi, đem theo những người cha Hoa Kỳ thì đồng thời cũng bỏ lại cả
miền Nam
cho cộng sản cùng với lớp trẻ bụi đường, mồ côi ngay khi cha còn sống.
Dù là trong thời chiến tranh, nửa triệu lính Mỹ còn đóng quân từ Long Bình
đến Khe Sanh thì trẻ em lai cũng vẫn là “Children of the Dust”. Dù là bụi đường
hay bụi đời thì cuộc sống cũng ở bên hè phố, thất học, bị xã hội khước từ ngay
tại quê mẹ.
Con lai Babylift
Các con lai Mỹ trong chiến dịch Babylift trở về thăm quê mẹ Việt Nam, từ
trái Tia Keevil, Tiana Mykkeltvedt, Jennifer Nguyen Noon, Tanya Bakal. Hoàng
Đình Nam/Getty Images
Tháng 4 năm 75, miền Nam
thất thủ. Người ở trong nhà còn tan nát đau thương thì dân con lai hè phố lại
càng bi đát. Những bà mẹ lấy Mỹ, xuất thân từ mọi hoàn cảnh. Làm sở Mỹ, thư ký,
nghe phone, làm giường, cắt cỏ, bán bar, bồi phòng và thậm chí là người tình
một đêm.
Đứa con ra đời. Tương lai đen tối. Có những đứa bé lai Mỹ vào viện mồ côi
tại Saigon đã may mắn được lên những chuyến
bay cuối cùng của chiến dịch Babylift.
Hình ảnh của em trở thành câu chuyện thời sự trên trang báo. Ba trăm hành khách
nằm trong các thùng giấy, tất cả đều khóc trong suốt chuyến bay. Đã có một
chuyến bay bất hạnh nổ tung nền trời Hóc Môn, xác trẻ em tơi tả trên cánh đồng.
Vị tướng Hoa Kỳ cuối cùng của phái bộ Mỹ đã đứng đó làm nhân chứng mà lau nước
mắt.
Ô nhục của Mỹ quốc.
Năm năm sau, khi những người thuộc diện quân cán chính Việt Nam Cộng Hòa hầu
hết đã đi tù cải tạo. Những gia đình miền Nam đã đi kinh tế mới. Hè phố Saigon vẫn còn lại di sản của chiến tranh. Các em lai đã
vào tuổi thiếu niên và cuộc sống hết sức thê thảm. Không những bụi đời mà còn thêm
nhiều tệ trạng hút xách, băng đảng. Đó là năm 1980, thượng nghị sĩ Stewant B.
Mc Kimay lên diễn đàn của Ủy Ban Đặc Nhiệm nói về niềm ô nhục của quốc gia
(National Embarrassment)
Ông nói, “Nếu người Mỹ yêu nước, có lòng ái quốc phải đặt lại vấn đề. Con lai
Việt Nam
là một di sản của Hoa Kỳ. Nó chính là con của chúng ta.” Ông thượng nghị sĩ
nói. Chúng ta đã phản bội một quốc gia, chúng ta đã phản bội những bà Mẹ. Bây
giờ hãy cứu lấy những đứa con.
Homecoming Act
Cũng phải bảy năm sau lời kêu gọi mới có kết quả. Homecoming Act 1987 ra đời
tuy muộn màng nhưng nội dung lại rộng rãi. Luật nói rằng tất cả những đứa trẻ
hai dòng máu ra đời từ 1 tháng 1 năm 1962 đến 1 tháng 1 năm 1976 đều là
Amerasian. Mỗi em là một vé cho chính em và cả bà con thân thuộc trực hệ được
vào cửa thiên đường. Hè phố Saigon bỗng nở hoa
Mỹ quốc. Chidren of the Dust bỗng trở thành Children of Gold. Con lai dù trắng
hay đen, dù trai hay gái, lớn hay nhỏ đều trở thành cuốn sổ thông hành với vé
máy bay một chiều để đi vào xứ sở thần tiên. Có được em bé lai trong tay là hết
phải bôn ba vượt biển, hết lo lắng về công an hay hải tặc.
Những em bé mắt xanh tóc vàng hay mắt trắng tóc quăn bắt đầu tắm sạch bụi hè
phố để đưa cả gia đình lên đường. Dù gia đình thực hay gia đình mua. Thành tích
ghi được nhiều nhất là một em đem 36 thân nhân vào phi cảng quốc tế tại San Francisco. Cả nhà
hưởng trợ cấp toàn diện như những dân tỵ nạn chính cống sống sót trên biển Đông.